validate scope vs control quality

Sự khác nhau giữa Validate Scope và Quality Control

Tôi viết bài này để cùng chia sẻ những hiểu biết về 2 quy trình Validate ScopeQuality Control, mối quan hệ và sự khác biệt hai quy trình này. Quy trình Valide Scope và Quality Control đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn M&C giúp dự án tạo ra sản phẩm cuối cùng đúng theo yêu cầu (fulfill requirement) và không có lỗi (defect-free). Điều này còn có nghĩa 2 quy trình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng sản phẩm chất lượng và được chấp nhận.

Về khía cạnh thi PMP, quy trình Validate Scope và Quality Control cũng đóng vai trò rất quan trọng, có một vài câu hỏi liên quan trong đề thi ở giai đoạn M&C, vì thế các bạn cần phải nắm rõ và hiểu cách vận dụng 2 quy trình này không thì thi PMP sẽ nát bét. Tỉ lệ đậu chỉ khoảng 50% ở lần đầu tiên và giai đoạn m&c rất nguy hiểm, xem thêm kết quả khảo sát 78 người thi PMP ở đây.

Có một quy trình nữa có tên Perform Quality Assurance rất dễ nhầm lẫn với Quality Control, tôi cũng đã có chia sẻ rất chi tiết ở chủ đề Sự khác nhau giữa Quality Assurance và Quality Control.

Link: Quality Assurance vs Quality Control 

Vì cả 2 quy trình này đều bao gồm bộ công cụ Inspection do đó rất nhiều bạn mơ hồ và thấy chúng là một, do đó không thể phân biệt trong kỳ thi PMP, thực sự chúng hoàn toàn khác nhau và bài này tôi sẽ giúp bạn điều đó.

Let’s go.

validate scope vs control quality

Quality Control

Chúng ta hãy cùng xem về Quality Control trước, Quality Control là một quy trình thuộc mảng kiến thức về quản lý chất lượng và quy trình này triển khai trong  giai đoạn monitoring & controlling.

Quality Control được thực hiện một cách nội bộ trong giai đoạn thực thi dự án để đảm bảo sản phẩm không có lỗi và tất cả các tham số đều nằm trong control limit của dự án. Ở quy trình này bạn sử dụng các bộ công cụ về quản lý dự án PMI đề xuất như fishbone diagram, inspection, control chart, scatter diagram.

Quality Control được thực hiện bởi một kỹ sư Quality Control với team members trong khi thực hiện dự án (nội bộ team). Để dễ hiểu tôi nêu một ví dụ như sau nhé:

Ví dụ bạn nhận 1 dự án xây dựng 100km đường HCM . Bạn đóng vai trò PM, đầu tiên bạn cần phải develop team và trong team đó bạn giữ một nhân viên đóng vai trò Quality Control để giám sát các công việc làm trong dự án có đang làm đúng hay không. Kỹ sư Quality Control này sẽ onsite và kiểm tra các công việc được thực đúng không từ A-Z. Anh ta có thể xem tỉ lệ trộn, nhiệt độ phù hợp, khoảng thời gian giữa các giai đoạn, độ lớn tiêu chuẩn của các lớp đá… Những công việc này gọi chung là Quality Control Activities.

Validate Scope

Quy trình Validate Scope thuộc mảng kiến thức Project Scope management và vị trí ở trong giai đoạn monitoring & controlling. Bạn có thể thấy Validate Scope và Quality Control đều ở giai đoạn monitoring & controlling và đây là điểm chung duy nhất giữa 2 quy trình này.

Validate Scope và Quality Control có điểm chung duy nhất là cùng ở giai đoạn monitoring & controlling.

Validate Scope là quy trình được thực hiện giữa project team và khách hàng vào cuối của dự án để xác nhận rằng product đã được hoàn thành, tất cả yêu cầu đã xong, và product này sẵn sàng được chấp nhận bởi khách hàng (Client).

Mục tiêu của Validate Scope là có được sự chấp thuận chính thống (formal acceptable) từ khách hàng.

Ví dụ bạn và team đã thực hiện xong 100km đường ở trên bao gồm các Quality Control Activities, bạn thấy nó đã ok và muốn nghiệm thu dự án, bước này bạn phải làm việc với khách hàng qua quy trình Validate Scope. Bạn phải mời hoặc đặt lịch hẹn với khách hàng để chọn ngày và ai là người kiểm tra (Inspection) các kết quả team làm thời gian qua. Họ có thể kiểm tra độ dày của mặt đường, độ rộng, khả năng chịu lựng, độ ma sát… Một khi tất cả được thỏa, bạn sẽ nhận được kết quả đạt và hoàn thành công việc, bạn nhận được tiền.

Mở rộng một chút, không nhất thiết Validate Scope phải thực hiện cuối dự án, quy trình đó có thể thực hiện trước thời điểm cuối dự án nhiều, hoặc thực hiện kèm song song với quy trình. Ví dụ ở trên là giả sử bạn không làm hết 100km mới nghiệm thu mà chỉ 10km nghiệm thu 1 lần, thì cứ 10km lại có Validate Scope 1 lần, điều này hoàn toàn dễ hiểu nếu 1 gói dự án bạn chia làm nhiều deliverables.

Bảng so sánh sự khác biệt giữa Validate Scope và Quality Control 

Dimension
Quality Control
Validate Scope
KA Project Quality Management Project Scope Management
Who do it? Perform internally by team members. Perform by PM with the client.
When do it? Perform during project execution Perform at the end of project or phase.
Objective Produce a defect-free product. Get accepted deliverables by the client.

Quality Control và Validate Scope là 2 quy trình giúp bạn đóng dự án, dự án có thành công hay không phải qua quy trình này xử lý. Quality Control được xử lý bởi nội bộ team trong quá trình thi hành còn Validate scope lại làm việc với khách hàng để được sự đồng ý hoàn thành đúng chuẩn. Quality Control thi hành trong quá trình thực hiện dự án, trong khi Validate Scope lại tiến hành khi deliverables sẵn sàng trao tay cho khách hàng (Hand over).

Đây là bài chia sẻ của tôi về sự khác nhau giữa validate Scope và Quality Control, tôi hy vọng đến thời điểm này bạn hoàn toàn hiểu rõ 2 quy trình này để không bị nát trong kỳ thi PMP :D Keep Calm and Be a Duck.

Nếu có bất cứ chia sẻ hay góp ý bạn vui lòng để lại ở dưới phần bình luận. Tôi rất vui lòng về điều đó. Cảm ơn.

 

 

Leave a Reply

Tôi rất vui khi bạn đã quyết định để lại comment, tôi sẽ phản hồi tất cả các comment nhanh nhất khi có thể. Chú ý tất cả comment đều được kiểm duyệt cẩn thận, xin đừng cố gắng spam hoặc quảng cáo. Xin cảm ơn.